CÂY TAM CÚC VÀ GIẤC MƠ XE HỒNG
- Cập nhật: Thứ tư, 29/7/2026 | 2:55:21 PM
Có thể nói trong nền thi ca hiện đại Việt Nam, Hoàng Cầm là nhà thơ đã tạo ra nhiều tín hiệu nghệ thuật độc đáo. Đó là những tín hiệu thẩm mĩ mang chủ tính riêng biệt, biểu trưng cho tình yêu trong ông: tình yêu quê hương đất nước luôn xót xa cay đắng và tình yêu đôi lứa, với những khối u tình như còn đang khắc khoải, uất nghẹn trong trái tim, như: đêm, mưa, yếm, cây, lá, cỏ, quả...
|
|
Đồng chiều Kinh Bắc
|
Đó là những tín hiệu thẩm mĩ, những biểu tượng nghệ thuật đa tầng nghĩa đã nhập vào điệu hồn thơ ông, mà trước hết đó là biểu tượng của cái đẹp để nhà thơ bước vào một cõi thơ đầy bí ẩn, siêu thực, vô lí, với những hình ảnh thơ không dễ gì nắm bắt được bằng tư duy lô gích thông thường, mà phải đặt nó trong mối quan hệ với một trường văn hoá thẩm mĩ riêng mới mong một sự giải mã nghệ thuật.
Đó là những tín hiệu nghệ thuật thơ được bật ra từ cõi mơ, từ vô thức, từ hư không, mang biểu tượng cho khát vọng một tình yêu da diết ám ảnh. Những tín hiệu ấy cứ ẩn hiện, chập chờn trong suốt quá trình sáng tác, tưởng chừng như vô nghĩa, thông thường, nhưng lại tạo nên một sự liên tưởng diệu kì.
Đồng chiều cuống rạCùng với Lá Diêu Bông, Cỏ Bồng Thi,Quả Vườn Ổi, thì Cây Tam Cúc cũng là một biểu trưng nghệ thuật độc đáo trong thi phẩm của Hoàng Cầm. Cỗ bài Tam Cúc vốn dùng làm một trò chơi phổ biến trong dân gian. Hoàng Cầm cũng là một người sành chơi Tam Cúc ngay từ thời còn "Tuổi đương thì” lúc dối cha dối mẹ để "Rút trộm rơm nhà đi trải ổ”.
Ấy vậy mà bằng tài năng nghệ thuật của mình, nhà thơ đã xây dựng một hình tượng nghệ thuật độc đáo: từ chuyện chơi Tam Cúc thành một biểu trưng về tình yêu quê hương, tình yêu trong cuộc sống mọi mặt, đặc biệt là mối tình thơ trẻ ít nhiều mang tính nhục cảm, và canh bài trẻ thơ đã trở thành canh bài cuộc đời, cuộc tình, tràn ngập, ngổn ngang, ngây ngất hơi ấm của rơm rạ, hơi tóc, cái vị ngọt ngọt, cay cay của miếng trầu, thổn thức, hồi hộp như khi rút những cây bài "mép cong cong” để... chơi. Cuộc chơi cứ ngày một hứng thú, say mê hơn, khi cái vị "trầu cay” làm "má đỏ” xuất hiện để "kết xe hồng đưa chị đến quê em”. Và hình ảnh người em "ghé cây bài” không phải để nhìn trộm bài, nghĩa là không chú ý vào việc chơi bài nữa mà để "tìm hơi tóc ấm”... thì ở đây không còn là chuyện chơi bài thông thường nữa. Những tín hiệu của Tam cúc bài đã "nhiễu” dần để nhường thông tin cho những tín hiệu thẩm mĩ khác - những cảm xúc yêu với khát vọng xe hồng:
"Em đi đêm tưởng điều sĩ
Đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em”
Rõ ràng tính liên tục trong kết cấu về ý đã bị phá vỡ. Cỗ bài tam cúc chỉ có màu đen và màu đỏ, "kết xe”, "đổi xe” là những nước đi thông thường của trò chơi. Cây Tam Cúc là có thực, cây xe trong Tam Cúc cũng có thực (xe đen, xe đỏ) không có gì đáng nói, nhưng "xe hồng” thì không có thực, là biểu trưng nghệ thuật. Mượn hình tượng "xe hồng” để "đưa chị đến quê em” là một cái cớ thể hiện khát vọng hạnh phúc. Ý thơ lặp lại hai lần diễn tả cái khát vọng, khát khao luôn thường trực đầy cảm xúc của nhà thơ. Hình ảnh thơ thật đẹp và tinh tế - "xe hồng” ở đây mang một ý nghĩa biểu trưng: xe duyên, xe hoa, sự kết nối. Giống như chiếc gậy tre thần kì trong Hội Gióng, từ chiếc gậy tre thông thường để đánh giặc rồi lại "cầm gậy tre đi xe duyên cô Tấm ông Hoàng”, chiếc gậy tre còn "Với Trường Chi nơi gấm đỏ lầu tây”. Tác giả trang trí lên cỗ bài thơ của mình nhiều màu sắc cứ đỏ, đen, hồng rồi lại vàng, liên tục như thế cùng với sự đứt mạch, đứt đoạn của ý niệm thơ đã tạo ra những khoảng trống tâm cảm gợi nhiều liên tưởng. Điều đó làm thay đổi hoàn toàn ý nghĩa của việc chơi bài thông thường để chuyển sang một ý niệm khác: tình yêu Chị - Em, nhưng là canh bạc tình yêu. Người được, người thua trong ván bài này sẽ ra sao? Liệu có kết, có đổi được xe hồng để đưa Chị đến quê Em?
Kết thúc bài thơ tác giả còn bỏ ngỏ một khoảng trống lớn để chờ đợi. Có lẽ đó là một linh cảm mơ hồ đang mách bảo cho Em khi kết thúc ván bài? Ấy là những mong manh, bất trắc đang chờ đón Em? Sắc màu trong cỗ bài - thơ cứ nhòe mờ dần như sự nhòe mờ trong tâm cảm trẻ thơ của Em. Liệu cái màu hồng diệu kì, lãng mạn ấy có trở thành sự thật? hay rút cục chỉ còn trống trơ toàn quân bài mang cái gam màu đỏ - đen chủ đạo của cỗ bài, để rồi sẽ biến thành sắc màu đen - đỏ của cuộc đời luôn ẩn ức trong trái tim yêu Hoàng Cầm? Tiếng Chị gọi đôi cây bài thật cụ thể, còn tiếng của Em gọi đôi thì mơ hồ, xa xăm, như chới với rơi hút vào không gian tan loãng. Câu thơ đặt dấu chấm giữa dòng (ngắt nhịp 4/3) tạo thế mất cân đối, bâng khuâng, nghi ngờ để cho em cứ lòng vặn lòng khi đứng nhìn theo mà gọi đôi... Cái tôi trữ tình dường như thắt vặn, giật mình hoá đá. Đằng sau ánh nhìn đầy lưu luyến ấy là cả một khối tình với những nỗi niềm của xúc cảm đang bị dồn nén, ứ nghẹn đã bật ra thành tiếng gọi đôi thảng thốt. "Gọi đôi” là gọi Chị, gọi "xe hồng”, gọi hạnh phúc, là tiếng gọi bật ra từ đáy lòng, là tiếng gọi đò từ một bến yêu đơn phương lạ lẫm, xa vời, nhưng đò đã sang sông, âm thanh cất lên như tiếng chim "bắt cô trói cột” ngày xửa ngày xưa. Từ đôi cây đến đôi lứa là cả một sự vận động của mạch tình. Bao nhiêu hi vọng, chờ đợi của Em nay đã bị "Quan Đốc Đồng” "thả tịnh vàng cưới Chị”, "võng mây trôi” mất rồi. Nghĩa là những ước mơ của em đã tan theo mây khói. Nhịp thơ gay gắt, như một định mệnh bức bách được đánh dấu bằng âm đ cứng rắn. Động từ "thả” tác giả sử dụng thật đắc địa làm sao. Giấc mơ hạnh phúc của Em còn đâu nữa? Trong bài Ai xui chắp mảnh xe hồng tác giả đã tự thú: "Một đời nợ suốt Diêu Bông/ Gọi đôi kết lứa xe hồng được đâu”.
Có thể nói lá bài Cây Tam Cúc là lá bài sinh mệnh, định mệnh, có ý nghĩa quyết định đến số phận con người thơ Hoàng Cầm. Và ở đây nó tồn tại với ý nghĩa riêng biệt, độc lập với nét nghĩa trong bài thơ. Lấy cây tam cúc và cuộc chơi bài tam cúc làm ẩn ngữ, nhà thơ thâu tóm hoàn hảo một trò chơi trí tuệ đơn giản mà vui, đồng thời gửi gắm khát vọng yêu đương kín đáo và nỗi đau mất mát về một tình yêu đơn phương, không tới được bến bờ hạnh phúc, gợi lên trong ta niềm trắc ẩn trước những éo le, uẩn khúc của lòng người. Hoàng Cầm đi từ một ẩn ngữ đến biểu trưng nghệ thuật đã làm tăng thêm tính tượng trưng, mơ hồ, đa nghĩa của hình tượng thơ, từ đó tạo được sự kết hợp hài hoà giữa hai yếu tố thực và hư, ổn định và biến hoá trong bài thơ. Bài thơ này là một thành tựu nghệ thuật tiêu biểu, phong cách thơ ngắn, đơn giản chứ không cầu kì, phu chữ. Ngôn ngữ thơ mới, trẻ trung, hiện đại, tài hoa và tinh tế từ cách đặt câu và xe kết ngũ âm, giọng điệu, mà bản ngã sắc màu truyền thống không thay đổi. Ông đã nâng từ một hình tượng thơ lên thành biểu tượng thơ thông qua thứ ngôn ngữ tam cúc được gẩy ra từ rơm rạ của cuộc sống thanh bình, dung dị, nhẹ nhàng, uyển chuyển, tinh tế nơi đồng chiều miền quê Kinh Bắc.
Với Cây Tam Cúc, Hoàng Cầm đã rất thành công trong việc thể hiện một tín hiệu yêu về mối tình Chị - Em. Từ cuộc đời thực đi vào cuộc đời thơ, hình ảnh những người Chị có thực trong tâm trí nhà thơ đã trở thành nguồn thi hứng, trở thành những nỗi niềm sâu thẳm trong cõi thơ thi nhân, nhà thơ dường như hướng sâu hơn tâm hồn mình vào cõi tâm linh, cõi vô thức để suy nghĩ, nếm trải và khám phá. Và qua đó, ta có thể thấy được cảm hứng trữ tình của nhà thơ: từ những tâm tư thơ dại yêu một người lớn tuổi hơn - khát khao tình yêu cháy bỏng - muốn cưới để thoả mãn khát vọng yêu, khát vọng xe hồng… nhưng không được, tình yêu ấy đã được kết thành Cây Tam Cúc. Những ẩn ức ấy luôn bị dồn nén, đầy khắc khoải của mối tình Chị - Em còn đang xanh nên cứ thổn thức, miên man, muốn bật tung, thoát ra khỏi cái ghềnh chữ "V” ấy.
Qua thời gian của đêm ngày, năm tháng, qua không gian của đồng chiều Kinh Bắc với những gió mưa, lúc lên ngọn sông Thương, khi đến bến Kỳ Cùng, lúc đếm sao, đếm nắng, đếm giờ, đếm triệu triệu năm… Nhưng hiện thực vẫn là hiện thực của đắng cay, u uất và rồi đành phải chôn chặt sau một "khối tình nghẹn” (chữ dùng của Chu Văn Sơn). Vì thế hình tượng thơ mang vẻ đẹp kì ảo với những hình ảnh siêu thực được nở ra từ cỗ bài thơ Tam Cúc, mà cội rễ của nó được bám chặt ở vùng Kinh Bắc trù mật về nền văn hoá, văn hiến lâu đời. Chính cội rễ ấy đã di dưỡng và thăng hoa cho những tình khúc của Hoàng Cầm!
Trần Đức Hoàn
Các tin khác
Từ ngày 29/7 đến ngày 3/8/2026 diễn ra triển lãm "Di sản của Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn" tại Khu lưu niệm Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên.
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) vừa bổ sung thêm 8 địa điểm mới vào Danh sách Di sản Thế giới tại kỳ họp lần thứ 48 của Ủy ban Di sản Thế giới diễn ra ở thành phố Busan (Hàn Quốc).
Tháng Bảy, cùng với các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, sân khấu của nhiều đơn vị nghệ thuật tại Bắc Ninh cũng sáng đèn với chương trình biểu diễn tri ân giàu cảm xúc. Những làn điệu quan họ, vở chèo, ca khúc cách mạng vừa là món quà tinh thần ý nghĩa dành tặng các thương binh, bệnh binh, người có công, vừa góp phần lan tỏa đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", khơi dậy niềm tự hào và trách nhiệm bảo vệ hòa bình hôm nay.
Hội diễn "Đàn và hát dân ca ba miền” toàn quốc năm 2026 bế mạc tối 8/7, chương trình của đoàn Bắc Ninh xuất sắc giành Huy chương Vàng toàn đoàn.

