Giữ hồn làng Kinh Bắc

  • Cập nhật: Thứ tư, 25/2/2026 | 2:38:09 PM

“Đừng buông giọt mắt xuống sông/ Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm” (Đồng Đức Bốn). Không hiểu sao mỗi lần đọc câu thơ ấy, hình ảnh người thôn nữ Kinh Bắc lại hiện lên - đôi mắt mang cả hai miền giá trị: Vừa vật thể, vừa phi vật thể. Ánh nhìn của chị hai quan họ đằm thắm mà sâu lắng, như mặt nước hồ thu phản chiếu trời xanh; vừa nồng nàn, vừa thanh khiết. Ẩn trong đó là hồn làng: Mềm mà vững, cổ xưa nhưng chưa bao giờ cũ.

Đôi bờ sông Như Nguyệt. Ảnh: Trương Xuân Thắng.
Đôi bờ sông Như Nguyệt. Ảnh: Trương Xuân Thắng.

Nhưng liệu nét cong của ánh mắt ấy có phai đi khi phố thị len vào từng ngõ nhỏ? Liệu ký ức làng - vốn được trao truyền bằng lao động, bằng lề lối, bằng hơi thở - sẽ còn lại bao nhiêu trước thế giới đổi thay trong từng sát na?. Trải dọc đôi bờ sông Cầu, sông Đuống, sông Thương; từ chân Nham Biền đến triền núi Thiên Thai rồi vươn tới đồi Lim xanh mướt, Bắc Ninh hiện lên như "một trường địa văn hóa dày bậc nhất của người Việt” - lời nhận định của giáo sư Trần Quốc Vượng. Không chỉ giàu di sản, vùng đất này còn là "mã nguồn văn hóa”, nơi khởi phát nhiều lớp trầm tích định hình bản sắc dân tộc.

Hệ thống di tích của Bắc Ninh là một chỉnh thể độc đáo: Đình Lỗ Hạnh, đình Diềm - đặc sắc kiến trúc và lễ nghi; đền Đô linh thiêng của triều Lý; chùa Dâu - trung tâm Phật giáo sớm nhất của người Việt; chùa Bổ Đà với kho mộc bản đồ sộ; chùa Vĩnh Nghiêm được UNESCO ghi danh; tượng A-di-đà chùa Phật Tích - "đỉnh cao điêu khắc Đại Việt” theo học giả Nguyễn Bá Lăng. Tất cả hòa thành một "kiến trúc ký ức” nơi từng viên gạch, phiến đá đều thấm đẫm hơi thở thời gian.

Nếu di sản vật thể là hình hài của Kinh Bắc, thì di sản phi vật thể chính là mạch máu của vùng đất này. Quan họ - Di sản Phi vật thể đại diện của nhân loại, không chỉ là hát đối đáp mà là một hệ thống văn hóa điển chế: Có nghi lễ, có kết chạ, có chuẩn mực, có triết lý sống. Trong mái đình Viêm Xá, bên bến Tiếu Mai, trên đồi Lim, tiếng hát giao duyên vẫn ngân lên như một khẳng định bền bỉ rằng văn hóa không được giữ bằng phô trương, mà bằng sự tinh tế thấm sâu vào đời sống.

Không gian lễ hội Kinh Bắc cũng mang chiều sâu đặc trưng: Hội Lim giữ lề lối quan họ chuẩn mực; hội Đồng Kỵ rực rỡ sắc thái thượng võ; lễ hội Thổ Hà, Tiếu Mai, Phù Lưu… tái hiện diễn xướng cổ xưa; các nghi lễ rước thần, rước nước, cầu quốc thái dân an vẫn nguyên linh khí. Nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh từng nhận xét: "Không nơi nào ở Việt Nam có mật độ lễ hội dày và mức độ nguyên bản sâu như Kinh Bắc”.

Văn hóa Kinh Bắc còn được bồi đắp bởi hệ thống làng nghề - những "bảo tàng tri thức sống” truyền nối bằng đôi tay và nếp nghĩ. Gốm Phù Lãng nâu đỏ trầm mặc; tranh Đông Hồ mộc mạc giàu biểu tượng; tre hun Xuân Lai đen ánh như gỗ quý; đồng Đại Bái, Đa Hội tinh xảo; gỗ chạm Phù Khê, Đồng Kỵ công phu; bánh đa Kế giòn thơm mùi đồng quê… Những làng nghề ấy tạo ra không chỉ sản phẩm, mà tạo ra cả văn hóa - một dạng "ký ức có thể cầm nắm được”.

Nhiều học giả cho rằng Bắc Ninh sở hữu "sức sống nội sinh mạnh mẽ”, khả năng tự tái tạo truyền thống đặc biệt. Giáo sư Nguyễn Đăng Thục từng viết: "Kinh Bắc là kho tàng mà mỗi thế hệ đều tìm thấy ở đó một cội nguồn, một sự nâng đỡ tinh thần.” Chính sự "nâng đỡ” ấy giúp văn hóa nơi đây không đóng băng, cũng không hòa tan - mà lặng lẽ thích nghi và bền bỉ phát triển.

Nhưng bước vào thời đại thị trường và công nghệ số siêu tốc, những giá trị từng trường tồn qua nghìn năm đang đối diện thách thức mới: Lễ hội bị thương mại hóa, nghi thức giản lược; nghề truyền thống bị công nghiệp hóa; nhiều làng nghề mai một; không gian quan họ đôi khi bị sân khấu hóa. Những biến động ấy đặt ra câu hỏi day dứt: Điều gì giữ cho hồn làng không phôi pha? Điều gì giữ được độ cong sâu thẳm trong ánh mắt quan họ? Điều gì giúp lớp trẻ có nền tảng để hiểu, yêu và tiếp tục trao truyền tinh hoa? Giữa dòng chảy toàn cầu hóa, làng buộc phải chọn con đường của mình - và không còn lựa chọn nào là trung tính. Giữ nguyên lề lối hay thích ứng để tồn tại? Bảo tồn hay tái tạo? Trở lại thuần khiết hay hòa vào đương đại? Mỗi sự lựa chọn đều mang một cái giá và chạm đến căn cước của cộng đồng.

Và rồi, khi câu hỏi ấy ngân lên, ta nghe đâu đây giai điệu của nhạc sĩ An Thuyên trong "Em chọn lối này": "Chân em đi rừng nhiều đường lắm lối... nhưng em chọn lối này… Em đây chọn lối này thôi…”. Trong khoảnh khắc ấy, ta thấy bóng người con gái Kinh Bắc đứng giữa giao lộ của thời gian: Trước mặt là những nẻo đường hiện đại mời gọi, sau lưng là lớp phù sa văn hóa đã bồi đắp nghìn năm. Và giữa muôn ngã rẽ, sự bền bỉ của văn hóa có lẽ không đến từ cưỡng cầu, mà đến từ một lựa chọn giản dị nhưng kiên định của trái tim. Chọn lối trở về. Chọn lối gìn giữ. Chọn lối bước tới tương lai mà không đánh rơi căn cước.

Mảnh đất sông Lục, núi Huyền; dải lụa sông Cầu thoảng qua bãi bồi; sông Thương tóc dài soi bóng, dòng Đuống lấp lánh phù sa - tất cả như thì thầm một lời nhắn. Chỉ cần còn những người biết nâng niu nếp cũ, giữ cho tiếng hát, nếp nghề và dáng làng một chốn trú bình yên, ký ức Kinh Bắc sẽ ở lại - mềm mại mà bền bỉ. Và hơn thế, tinh hoa của hồn làng - lòng nhân, nếp nghĩa, sự tinh tế và thủy chung sẽ được trao truyền cho thế hệ mai sau, để được gìn giữ, vun đắp và làm mới theo nhịp thời đại. Để ký ức ấy tiếp tục sinh sôi, tỏa sáng… và màu dân tộc sẽ mãi mãi sáng bừng trên giấy điệp…

Thật lạ, trong một không gian mới, thời đại mới, muôn vàn những xa lộ vượt sông, vượt núi và cả những chuyến bay tốc hành cùng với những công nghệ thông tin đang kéo mỗi chúng ta gần hơn, trong ta lại có một hành trình trở về quá khứ… và lại "thèm” một chiếc cầu dải yếm xưa để được "Ước gì sông rộng một gang/ Bắc cầu dải yếm đón nàng sang chơi”.

Theo Báo BNĐT

Các tin khác
Học viên tham dự lớp truyền dạy hát then - đàn tính.

Trung tâm Văn hóa và Xúc tiến du lịch Bắc Ninh vừa tổ chức truyền dạy hát then - đàn tính cho gần 40 học viên là hạt nhân văn nghệ của các câu lạc bộ hát then - đàn tính đến từ các địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số, như: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Lạng Giang, Yên Thế…

Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội khép lại với nhiều dấu ấn qua các tiết mục nghệ thuật đặc sắc.

Lễ hội khép lại nhưng hành trình kết nối vẫn tiếp tục. Những câu chuyện được hình thành tại Hà Nội sẽ tiếp tục lan tỏa, mang theo hình ảnh một Việt Nam giàu bản sắc đến với bạn bè năm châu.

Lễ rước văn, rước bộ từ chùa Côn Sơn về đền Nguyễn Trãi. Ảnh: THIỆN TÍN

Trong không gian linh thiêng của “Tháng Tám giỗ Cha”, Lễ hội Côn Sơn, Kiếp Bạc mùa thu năm 2026 không chỉ tưởng niệm các anh hùng dân tộc mà còn đánh dấu sự kiện công bố bộ nhận diện thương hiệu Di sản thế giới Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử-Vĩnh Nghiêm-Côn Sơn, Kiếp Bạc. Không gian lễ hội được mở rộng, công tác quản lý và tổ chức lễ hội được nâng tầm hòa vào dòng chảy di sản thế giới.

Nghi lễ diễu hành rước lễ, dâng lễ vật bánh chưng, bánh dày, hoa quả, đặc sản Nam Bộ lên Quốc Tổ Hùng Vương trong dịp Giỗ tổ 2026.

Cục Nghệ thuật biểu diễn vừa có Thư ngỏ về hưởng ứng Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11/2026, kêu gọi các đơn vị nghệ thuật, tổ chức, doanh nghiệp, nghệ sĩ, nhà sáng tạo trên cả nước xây dựng, tổ chức các chương trình, hoạt động nghệ thuật thiết thực, chất lượng, phục vụ đông đảo công chúng.

Xem các tin đã đưa ngày:
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục
 
Thời sự