Trong phong trào Thơ Mới (1932–1945), nữ sĩ Anh Thơ đã góp mặt trong làng thơ Việt Nam với những sáng tác in đậm dấu ấn sinh hoạt của một vùng quê thôn dã Kinh Bắc và mang một sắc thái riêng biệt. Nữ sĩ đã góp một phần vào cuộc "cân bằng sinh thái" cho đời sống thơ ca lúc bấy giờ. Anh Thơ đã làm dịu tâm hồn người đọc bằng cách đưa họ về với những bức tranh quê yên bình, trong đó như ngưng đọng nhịp sống thong thả ngàn đời của người nông dân Việt Nam.
|
|
Nữ sĩ Anh Thơ
|
Đó là không gian của bốn mùa được miêu tả khá tỉ mỉ. Nhà thơ đã tạo dựng được một bức tranh thiên nhiên tứ bình Xuân - Hạ - Thu - Đông thật đẹp. Bức tranh quê là bức tranh thiên nhiên đầy ắp các chi tiết đời sống ở cảnh trí bốn mùa, êm ả mà sống động, tinh tế và thi vị. Nữ sĩ nắm bắt và thể hiện tài tình bước đi của thời gian, không gian, những biến đổi về thời tiết nắng mưa. Nhất là vào những ngày hè.
Nắng, nắng, suốt trời vàng dội nắng,
Gió theo mây không biết trốn phương nào?
Vườn chuối rũ héo dần trong im lặng,
Những rau bèo chết cạn cả lòng ao.
Cái nắng gay gắt ấy tạo nên bao cảnh tượng mệt mỏi từ quang cảnh của một góc chợ:
Chó lè lưỡi ngồi thừ nhìn đống cối,
Lợn chõi nằm hồng hộc thở căng dây. (Chợ mùa hè)
Tập thơ Bức tranh quê được giải thưởng của Tự lực văn đoàn, trong đó thuần là những bài thơ tả cảnh, tả phong tục làng quê Kinh Bắc với một ngòi bút thật già dặn. Trong Thi nhân Việt Nam, nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã phải thốt lên kính phục: "Cứ xem văn của Anh Thơ ai cũng bảo là người có học. Thế mà cái lối viết rõ ràng, chắc chắn ấy, Anh Thơ không từng được học tiếng Pháp. Càng kính phục người, ta càng mừng cho nền Quốc văn. Quốc văn ta ngày một thêm phong phú và hiện nay đã có thể làm lợi khí đào luyện tinh thần cho một người như Anh Thơ."
Còn đây là cảnh Trưa hè với một bức tranh mang đậm chất thôn quê thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám:
Trong thôn xóm, tiếng gà xao xác gáy,
Các bà già đưa võng hát thiu thiu...
Những đĩ con ngồi buồn lê bắt chấy,
Bên đàn ruồi rạc nắng hết hơi... kêu.
Nữ sĩ nói nhiều đến thiên nhiên, một thiên nhiên khắc nghiệt không chiều chuộng con người và gây nên bao vất vả nhọc nhằn. Qua những bức tranh mùa hè, ta thấy thiên nhiên không còn thơ mộng nữa mà được hiện lên với nét vẽ thực của nó. Nhà thơ đã bộc lộ một năng lực quan sát và nắm bắt giỏi những hình ảnh và chi tiết chân thực của cuộc sống bên ngoài. Nhiều bài thơ hướng vào tập trung miêu tả những cảnh vật, những đường nét của khung cảnh làng quê khiến cho bài thơ như tương đồng với một bức tranh phong cảnh.
Đúng với tên sách Bức tranh quê- là một tập họa phẩm về những bức tranh quê, nữ sĩ họa lại bằng những nét chấm phá sống động, là công trình khảo cứu về sinh hoạt và những phong tục tập quán nông thôn vùng Kinh Bắc một thời. Cũng có thể gọi được đó là một cố viện bằng hình tượng và nhạc điệu mà bất kỳ một nhà phong tục nào cũng có thể rút ra được những nhận xét, hay một họa sĩ có thể lấy chất liệu dựng lên với những sắc màu hoài cổ.
Từ tuổi 16, với cái vốn xem chừng đã hạn chế, lại bị cha cấm làm thơ: "Làm thơ là loạn, là hư đốn", nhưng nhà thơ đã có được cái nhìn khá tinh tế, một khả năng nắm bắt, chọn lọc và tổ chức bài thơ, ý thơ với một nghệ thuật khá vững chắc. Qua những bài thơ về mùa hè ta thấy rõ sự khác biệt ấy:
CảnhSáng hè thì rực rỡ với không gian thanh bình của những xóm làng lặng lẽ sau những lũy tre xanh, trong hồ nước lặng lẽ, cùng tiếng chim ca líu lo, đây đó khói lam chiều nhà nhà tô điểm cho bức tranh hoàng hôn đẹp:
Gió man mác bờ tre rung tiếng sẻ,
Trời hồng hồng đáy nước lắng son mây.
Làn khói xám từ nóc nhà lặng lẽ,
Vươn mình lên như tỉnh giấc mơ say.
CảnhTrưa hè thì uể oải. Còn đây là cảnh Chiều hèthoáng đãng, nên thơ với những câu ca huê tình được cất lên từ nơi thôn dã, làm bao khách thành thị phải mơ ước:
Mặt trời lặn, mây còn tươi dáng đỏ,
Cò từng đàn bay trắng phía đồng xa.
Tiếng diều sáo véo von cùng tiếng gió
Hòa nhịp nhàng giọng ả hát dân ca.
Làng quê Kinh Bắc xưa với những cảnh sinh hoạt văn hóa dân gian được cất lên từ những câu ca quan họ nền nã, tình tứ, mượt mà càng làm cho cảnh quê thanh bình, yên ả. Không gian ấy tạo nên sự mơ màng, huyền ảo cho cảnh Đêm hè nơi đồng quê yên tĩnh:
Ngoài đồng lúa một vài cô tát nước,
Múc trăng lên theo tiếng hát mơ màng.
Mùa hè còn là mùa của nhiều giông bão. Nữ sĩ Anh Thơ không bỏ qua những cảnh đó và đã diễn tả rất rõ ràng:
Trời đang nắng bỗng mây xám đất tối,
Cây giật mình, lá đổ, gió xôn xao.
Chim vút về, lúa đồng tung sóng nổi,
Bỗng chớp lòe rồi sấm động, nao nao…
Không gắn bó chặt tâm hồn và cuộc đời mình với chốn thôn quê thanh dã, văn hóa và thẩm mỹ thì nữ sĩ chắc sẽ không thể thụ cảm được một cách cụ thể và tinh tế, sắc sảo như vậy được. Nếu để ý ta sẽ thấy trong khổ thơ trên, câu thơ nào cũng chứa đựng ít nhất hai động từ mạnh nhằm diễn tả sự chuyển đổi đột ngột của thời tiết. Cơn giông ấy đã làm thay đổi bao cảnh sinh hoạt của người dân nơi đây:
Trong làng xóm nhà nhà bay tốc mái,
Gió xoáy vòng đẩy gạt lũy tre xanh,
Những đàn bà chạy mưa về hớt hải,
Váy phấp phồng theo nhịp bước chân nhanh. (Cơn giông)
Có một điều khá đặc biệt là đằng sau những bức tranh thiên nhiên ấy ta nhận ra những con người với dáng nét đặc trưng của cư dân vùng Kinh Bắc với một tầng sâu giá trị văn hóa, ấy là những: hàm răng đen nhánh, những giọng dân ca Quan họ trữ tình, những váy Đình Bảng phấp phồng theo nhịp bước…
Bức tranh quê đã ghi lại một dấu ấn quan trọng trong hành trình nghệ thuật của nữ sĩ Anh Thơ. Nó gắn liền với tên tuổi nhà thơ và tạo cho bà một phong cách riêng, gần gũi quen thuộc với cảnh và người của làng quê Việt Nam. Ở mỗi thi phẩm, mỗi cảnh sắc thiên nhiên, nhà thơ lại như ký thác một giá trị, một biểu trưng văn hóa trên quê hương mình vào trong đó. Rõ ràng chỉ qua vài chi tiết chọn lọc, nữ thi sĩ đã gợi lại được cái thần thái của cảnh vật nơi đây. Những ngày ấy cuộc đời nữ sĩ gắn với dòng sông, bến nước, con đò, gắn với những lũy tre xanh bao bọc xóm làng thân yêu. Cũng từ đó mà cảnh vật đã đi vào lòng người rồi đi vào thơ rất tự nhiên và giản dị như một bức tranh quê. Thơ Anh Thơ cũng giản dị như chính cuộc đời của nữ sĩ vậy./.